ĐA DẠNG PHƯƠNG PHÁP XUỐNG GIỐNG LÚA MÙA NỔI Ở ĐBSCL

Ths. Lê Thanh Phong - PGĐ. Trung tâm NC&PTNT - ĐHAG

 

            Cây lúa mùa nổi (LMN) là cây lúa truyền thống ở ĐBSCL. Với lợi thế vừa chịu được hạn vừa chịu được ngập, cho nên từ lâu người nông dân đã biết tận dụng các lợi thế của cây lúa này trong canh tác luân canh với các loại cây trồng khác. Mật độ gieo sạ thưa hoặc dầy ở giai đoạn nẩy mầm và mạ không ảnh hưởng nhiều đến năng suất lúc thu hoạch. Điều này đã đã được các nghiên cứu trước đây và hiện tại chứng minh. Lượng giống gieo sạ cho mỗi công (1.300 m2) có thể dao động từ 2-22 kg, tùy thuộc vào vùng và kinh nghiệm canh tác của người dân. Trong bài viết này, Trung tâm NC&PTNT xin giới thiệu với đọc giả về đa dạng phương pháp gieo sạ LMN của nông dân vùng ĐBSCL. Điểm đặc biệt của sự đa dạng phương pháp gieo sạ chính là ứng dụng khả năng có thể nẩy mầm và phát triển trong điều kiện khô hạn và ít nước từ 6-10 tuần đầu của vụ lúa để đối phó với điều kiện khô hạn, cỏ dại, ứng dụng trong chăn nuôi, đối phó với ngập nước giữa vụ và nhằm mục đích chuẩn bị cho vụ màu kế tiếp. Các phương pháp gieo sạ gồm có:

1.      Sạ chay, cày xới 1 lần, không cần làm cỏ:

Đối với những ruộng ít cỏ, sau vụ trồng màu, người dân có thể sạ chay LMN không cần làm cỏ, sau đó cày xới đất lấp hột. LMN tận dụng ẩm độ đất và nước mưa để hột lúa nẩy mầm. Phương pháp này gặp ở những ruộng trồng ớt, bắp,…thuộc huyện Thanh Bình, Đồng Tháp. Lượng giống gieo sạ mà người dân áp dụng tương đương 18 kg/công (1.300 m2).

Hình 1. LMN được sạ chay, cày xới và không dọn cỏ

2.      Sạ chay, cày xới 1 lần, có xử lý cỏ:

Đối với những ruộng có nhiều cỏ, sau vụ màu, người dân tiến hành dọn cỏ, sau đó cày xới đất lấp hột. LMN tận dụng ẩm độ đất hoặc nước mưa để lúa nẩy mầm. Phương pháp này gặp ở những ruộng trồng ớt, khoai mì, bắp… thuộc huyện Tri Tôn, huyện Chợ Mới (An Giang) và huyện Thanh Bình (Đồng Tháp). Lượng giống gieo sạ mà người dân áp dụng ở An Giang là 8-10 kg/công (1.300 m2) và 15-22 kg/công (1.300 m2) ở Đồng Tháp. Nông dân huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) sử dụng mật độ cao LMN để “yếm cỏ” ở giai đoạn lúa non và mạ, khi nước dâng, cỏ sẽ bị nước lũ nhấn chìm và cây LMN vẫn tiếp tục phát triển, nên lượng giống gieo sạ cao hơn các vùng khác.

Hình 2. LMN được sạ chay, dọn cỏ và cày xới 1 lần

3.      Sạ cày xới 1 lần sạ và bừa lấp hột:

Những nông dân trồng khoai mì, mong muốn đất trồng khoai mì năm sau được tơi xốp và củ nhiều hơn, thường áp dụng phương pháp cày xới xong, sạ lúa khô, sau đó bừa lấp hột. Phương pháp này cũng được áp dụng ở những ruộng trồng màu có đánh liếp để trồng các loại rau, đậu, kiệu, khoai môn,… ở huyện Tri Tôn và Châu Phú. Lượng giống gieo sạ thường dao động từ 8-10 kg/công (1.300 m2).

Hình 3. LMN được cày xới, sạ khô và bừa lấp hột

4.      Sạ lòn:

Đây là phương pháp gieo sạ thông minh mà người dân đang áp dụng trong hệ thống canh tác LMN-màu (1 vụ LMN kết hợp với 2-3 vụ màu (2 bắp non + 1 bắp nù)) ở nông dân vùng Chợ Mới và Thanh Bình. Để tranh thủ thêm 01 vụ bắp trước khi lũ đến, nông dân sạ lòn LMN ở giai đoạn bắp được 20 ngày tuổi trở lên (tùy theo loại bắp non hoặc bắp lấy hột). Hột LMN được sạ giữa 02 hàng bắp. Khi dọn cỏ hoặc vô chưng cây bắp, người dân dùng dao hoặc trét để giúp hột LMN trộn vào trong đất để tránh chim, chuột phá hại. Hột LMN có thể sử dụng ẩm độ trong đất khi tưới bắp, hoặc mưa đầu mùa để nẩy mầm. Lượng giống sử dụng không khác nhiều so với các phương pháp trên (8-10 kg/ công 1300 m2) và tùy theo kinh nghiệm của nông dân. Thời gian thu hoạch bắp cũng là lúc nước bắt đầu lên ruộng, cây LMN phát triển theo nước. LMN có thể tận dụng lượng phân thừa từ trồng bắp hoặc các loại hoa màu khác để phát triển.

Hình 4. LMN được sạ lòn trong ruộng bắp

5.      Sạ mộng:

Kỹ thuật này được áp dụng ở những ruộng có nước hoặc không chủ động thoát được nước khi gieo sạ. Việc cày xới và ủ mộng có thể áp dụng như lúa cao sản. Lượng giống gieo sạ dao động từ 8-10 kg/công (1.300 m2). Phương pháp này nên chú ý độ ẩm ở giai đoạn gieo sạ, tránh quá nhiều nước sẽ làm cho lúa bị úng và chết hoặc thiếu nước có thể làm khô mộng sau khi gieo sạ. Phương pháp này hiện nay ít được người dân sử dụng, chỉ áp dụng khi cần thiết.

Hình 5. LMN được sạ mộng

6.      Gieo hóc:

Gieo theo hóc là phương pháp có từ lâu đời, tuy nhiên, bấy lâu nay người dân không áp dụng do tốn nhiều thời gian và chi phí. Khi gieo hóc có thể cày xới đất hoặc không cày xới, tùy theo mục đích sản xuất và độ xốp của đất. Nếu đất có cày xới thì chỉ cần đưa hột LMN vào đất theo đúng mật độ hóc, không cần sử dụng các chất độn như tro trấu hoặc xơ dừa. Nếu không làm đất có thể dùng chày tỉa, dao hoặc bất cứ dụng cụ nào để tạo được các lỗ gieo hột, phương pháp này có bổ sung thêm tro trấu hoặc xơ dừa để giữ ẩm cho hột lúa hoặc sử dụng xác bã hữu cơ còn lại trên ruộng để đậy. Phương pháp gieo theo hóc rất tiết kiệm hột giống, với mật độ 1-3 hột/hóc, tùy theo kinh nghiệm người dân, lượng giống sử dụng có thể từ 1-4 kg hột/công (1.300 m2). Trung tâm NC&PTNT cũng đã thử nghiệm gieo theo hóc để nhân giống, việc gieo 1 hoặc 3 hột/hóc cho mật độ chồi và bông/m2 không khác nhau khi thu hoạch. Người dân đã ứng dụng phương pháp này cho việc nhân giống, trồng gối vụ với cây màu…

Hình 6. LMN được gieo hột theo hóc và giai đoạn nước lũ dâng

7.      Cấy:

Cấy LMN cũng là phương pháp có từ lâu đời, ngày nay, người dân ít hoặc không áp dụng cũng do tốn nhiều thời gian và chi phí. Cấy có thể áp dụng ở những ruộng có vụ màu đang kéo dài thời gian thu hoạch hoặc muốn tranh thủ trồng thêm vụ màu. LMN có thể gieo mạ sân, hoặc gieo mạ ruộng, sau từ 2-4 tuần, mạ có thể sử dụng để cấy. Tùy theo thời gian trồng thêm vụ màu hoặc chuẩn bị đất mà nông dân có thể chọn thời điểm gieo mạ cho phù hợp. Lượng giống để làm mạ tương đương với gieo theo hóc, từ 1-4 kg hột/công (1.300 m2). LMN nên cấy 1 tép là tốt nhất, vì khả năng nở bụi của LMN rất lớn (10-54 tép/bụi).

 

Hình 7. LMN giai đoạn mới cấy và sau cấy 03 tuần

            Điểm qua các phương pháp gieo sạ trên, chúng ta có thể thấy việc canh tác LMN rất đa dạng mà người dân đang áp dụng tùy thuộc vào kinh nghiệm, điều kiện tự nhiên và những loại cây màu đang luân canh. Đặc tính quan trọng của LMN là giai đoạn lúa non và mạ, LMN không có nhu cầu nhiều về nước (có thể chịu được khô hạn từ 6-10 tuần sau sạ) và việc cày xới lấp hột không ảnh hưởng nhiều đến sự nảy mầm LMN. Ứng dụng triệt để đặc tính đó, người nông dân đã có những sáng kiến ra các cách gieo trồng khác nhau cho phù hợp với mô hình mình đang canh tác. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu “khủng hoảng thiếu nước trong mùa khô và khủng hoảng thừa nước trong mùa lũ” là vấn đề mà ĐBSCL sẽ đối mặt, thì cây LMN được nhắc đến như giải pháp thích ứng với viễn cảnh này, giống như tính đa dạng từ những phương pháp gieo sạ của nó./.

An Giang, ngày 17 tháng 07 năm 2015

(Bài viết thể hiện theo góc nhìn của tác giả và khảo sát thực tế tại các địa phương An Giang và Đồng Tháp)

Đính kèm: 
Đính kèmDung lượng
2015.07.17_DDPPSLMN_ltphong.pdf876.95 KB

Vietnam Field School 2016

Dự án

Lịch sự kiện

CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
 
1
 
2
 
3
 
4
 
5
 
6
 
7
 
8
 
9
 
10
 
11
 
12
 
13
 
14
 
15
 
16
 
17
 
18
 
19
 
20
 
21
 
22
 
23
 
24
 
25
 
26
 
27
 
28
 
29
 
30
 
31
 
 
 
 

Đối tác

Thống kê

  • Lượt truy cập 42,406

Đăng nhập